Các yếu tố nguy cơ ung thư cổ tử cung làm tăng khả năng phát triển thành bệnh ung thư cổ tử cung ở một người phụ nữ. Theo đánh giá thì những yếu tố nguy cơ đó bao gồm:
Nhiễm vi rút u nhú ở người (HPV) là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với ung thư cổ tử cung. HPV là một nhóm gồm hơn 150 loại virus gây nhiều bệnh lý, trong đó nguy hiểm nhất là ung thư cổ tử cung, ngoài ra còn có u nhú, thường được gọi là mụn cóc.

Một số chủng HPV có nguy cơ cao, chẳng hạn như HPV-16 và HPV-18, có thể dẫn đến sự phát triển của ung thư cổ tử cung. HPV là một bệnh lây truyền qua đường tình dục và hoạt động tình dục sớm, quan hệ tình dục nhiều bạn tình và quan hệ tình dục không được bảo vệ sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm HPV. Nhiễm HPV là yếu tố nguy cơ ung thư cổ tử cung chính yếu nhất. Rất hiếm các trường hợp ung thư cổ tử cung mà không nhiễm HPV.
Không tiêm vắc xin ngừa HPV là một trong các yếu tố nguy cơ ung thư cổ tử cung. Vắc xin HPV có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao phổ biến nhất gây ra ung thư cổ tử cung. Cách tốt nhất là bạn nên tiêm chủng cho cả nam và nữ trước khi quan hệ tình dục.
Hệ thống miễn dịch suy yếu, thường thấy ở những người mắc các bệnh như HIV/AIDS hoặc những người đang điều trị ức chế miễn dịch làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh lý. Vì thế, đây cũng là yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung vì làm tăng khả năng bị nhiễm vi-rút HPV và sự tiến triển của các tổn thương liên quan đến vi-rút dẫn đến ung thư cổ tử cung.
Hút thuốc lá và tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động là một yếu tố nguy cơ đáng kể đối với ung thư cổ tử cung. Các hóa chất có trong thuốc lá có thể làm hỏng các tế bào cổ tử cung, khiến chúng dễ bị nhiễm vi-rút HPV và phát triển các biến đổi ung thư.
Những phụ nữ đã sử dụng thuốc tránh thai đường uống (thuốc tránh thai) trong thời gian dài, thường là 5 năm trở lên, có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn một chút. Tuy nhiên, nguy cơ này dường như giảm đi sau khi ngừng sử dụng thuốc tránh thai.
Phụ nữ mang thai nhiều lần có thể tăng nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung. Lý do chính xác cho mối liên quan này vẫn chưa được hiểu đầy đủ, nhưng những thay đổi về nội tiết tố và hệ miễn dịch khi mang thai có thể đóng một vai trò nào đó.
Phụ nữ có địa vị kinh tế xã hội thấp hơn có thể bị hạn chế trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bao gồm cả sàng lọc ung thư cổ tử cung thường xuyên. Việc chẩn đoán và điều trị chậm trễ có thể làm tăng nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của ung thư cổ tử cung.
Có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư cổ tử cung hoặc một số tình trạng di truyền nhất định, chẳng hạn như hội chứng Lynch, có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung. Các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến khả năng nhiễm HPV của một cá nhân và sự tiến triển của các bất thường ở cổ tử cung.
Tham gia vào các hành vi tình dục có nguy cơ cao, chẳng hạn như có nhiều bạn tình, quan hệ tình dục sớm hoặc quan hệ tình dục không an toàn là yếu tố nguy cơ ung thư cổ tử cung rất nguy hiểm. Nó không chỉ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng HPV và ung thư cổ tử cung sau đó mà còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý lây qua đường tình dục khác như HIV, lậu, giang mai,...
Không tiến hành sàng lọc ung thư cổ tử cung thường xuyên, chẳng hạn như xét nghiệm Pap hoặc xét nghiệm HPV, làm giảm nguy cơ phát hiện những thay đổi tiền ung thư hoặc ung thư ở cổ tử cung ở giai đoạn đầu khi các lựa chọn điều trị hiệu quả hơn.
DES là một loại thuốc nội tiết tố được sử dụng cho một số phụ nữ từ năm 1938 đến năm 1971 để ngăn ngừa sẩy thai. Những phụ nữ có mẹ dùng DES (khi mang thai) sẽ phát triển ung thư tuyến tế bào sáng ở âm đạo hoặc cổ tử cung thường xuyên hơn bình thường. Những loại ung thư này cực kỳ hiếm gặp ở những phụ nữ chưa tiếp xúc với DES. Đây là yếu tố nguy cơ ung thư cổ tử cung không thể thay đổi được. Tuy nhiên, FDA đã ngừng sử dụng DES khi mang thai từ năm 1971 nên ngày nay yếu tố này ít xuất hiện ở những phụ nữ bị ung thư cổ tử cung.
Ngăn ngừa sớm các yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung bao gồm sự kết hợp giữa lựa chọn lối sống và chăm sóc y tế thường xuyên. Dưới đây là những biện pháp phòng ngừa ung thư cổ tử cung hiệu quả mà bạn nên áp dụng:

Bạn cần biết rằng những bước phòng ngừa này có thể làm giảm đáng kể nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung nhưng chúng không mang lại sự bảo vệ tuyệt đối. Kiểm tra và sàng lọc thường xuyên với bác sĩ là điều cần thiết để phát hiện sớm và quản lý hiệu quả ung thư cổ tử cung.
Giờ đây bạn biết rằng nhiều yếu tố nguy cơ ung thư cổ tử cung có thể thay đổi được bằng lối sống lành mạnh và một chế độ chăm sóc sức khỏe toàn diện. Việc chủ động chăm sóc sức khỏe sớm, tăng cường sức đề kháng là cách để bạn có cuộc sống khỏe mạnh lâu dài.
Như vậy, các yếu tố nguy cơ ung thư cổ tử cung có thể làm tăng khả năng mắc ung thư ở một người phụ nữ hơn so với những người không có. Tuy nhiên, nhiều yếu tố trong số này có thể được phòng ngừa bằng một lối sống lành mạnh và việc tăng cường hệ miễn dịch cũng như cân nặng lý tưởng. Để có được điều này, hãy xây dựng chế độ dinh dưỡng phù hợp, tập thể dục đều đặn và bổ sung các sản phẩm tăng cường sức đề kháng như uống hoặc truyền vitamin, khoáng chất nếu có thiếu hụt.
Chỉ cần bạn chăm sóc sức khỏe chủ động ngay từ khi còn sớm sẽ giúp cơ thể tăng sức đề kháng, khỏe mạnh hơn và giảm tối đa nguy cơ mắc các bệnh lý mạn tính, trong đó có ung thư cổ tử cung.
Nguồn: healthline.com - cdc.gov
64
Bài viết hữu ích?
Bài viết hữu ích?
64
Bài viết hữu ích?
Phòng khám đa khoa thuộc Công ty Cổ phần Viện chống lão hoá tế bào Dripcare Giấy phép hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh số chữa bệnh
số 09966/HCM-GPHĐ do Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18 tháng 11 năm 2024.
Thời gian làm việc hàng ngày: Từ 7h00 đến 21h00
Địa chỉ: Số 24 đường Lý Tự Trọng, phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp: Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 59 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh.
Copyright @ 2024 DripCare. Công ty Cổ phần Viện chống lão hóa tế bào Dripcare Mã số doanh nghiệp: 0317595902 Sở tài chính Thành phố Hồ Chí Minh cấp (Đăng kí thay đổi lần 3) ngày 23/12/2025.